Gái Ngoan Dạy Chồng

Làm trai rửa bát quét nhà,

Vợ gọi thì “Dạ, bẩm bà tôi đây”.

Chúng ta thường hiểu câu ca dao trên như một lời chế diễu các đức ông chồng sợ vợ thời nay. Thật ra, câu đó bắt nguồn từ một chuyện cổ tích được truyền tụng trong dân gian từ xưa. Song Nguyền xin mời quý vị tìm về kho tàng cổ tích Việt Nam ta, qua câu chuyện bàng bạc dân tộc tính và ý nghĩa khuyên răn sau đây.

Ngày xưa có một người nhà giàu, vợ chết sớm, chỉ có độc một người con trai. Đứa con vốn người xấu nết, đần độn, lại là tay chơi bời lêu lổng không chịu học hành hay làm ăn gì cả. Thấy con không lo nối nghiệp nhà, người nhà giàu rất buồn phiền, biết rằng của cải của mình sẽ có một ngày đội nón ra đi mà thôi. Bởi vậy, ông mới tính chuyện kiếm cho con một người vợ khôn ngoan đảm đang, để may ra nó sẽ ngăn chặn tay chồng, bảo vệ một phần nào cơ nghiệp.

Nghĩ vậy, ông cất công đi khắp nơi tìm kiếm, nhưng đi đã nhiều nơi mà vẫn chưa tìm thấy một người nào vừa ý. Một hôm, đến một vùng kia, nhân mỏi chân, ông nghỉ lại một gốc đa bên đường, ông bỗng thấy có một cây táo gần đấy có một bọn trẻ đang tranh nhau trẩy ăn. Một chốc sau, có một cô gái tuổi chừng đôi tám, cũng đến trẩy táo. Ông mới lân la đến gần hỏi xin ăn. Lúc này, táo chín đã bị bọn người trước trẩy hết, chỉ còn những quả xanh, nhưng cô gái cũng cố chọn những quả ương ương đưa cho khách.

Thấy cô gái tốt bụng, ông ta nghĩ: “sởi lởi, trời gởi của cho. Quăn co, trời gò của lại. Chỉ có người nào tốt bụng với mọi người mới xứng đáng được hưởng giàu có sung sướng”. Nghĩ vậy, ông mới tìm đến nhà cô gái, giả làm một người lỡ độ đường, xin nghỉ trọ một tối và rồi ông được gia đình cô gái ân cần tiếp đãi.

Để thử cô gái có khôn ngoan không, ông lân la làm quen với nàng. Khi biết cô sắp đi chợ, ông đưa ra một quan tiền nhờ mua hộ cho mình “ một nắm gió, một bó lửa”. Cô gái chẳng nói chẳng rằng, mua về cho ông một cái quạt và một con dao đánh lửa. Thấy thế, ông thầm khen ngợi, nhưng vẫn định thử thêm cho biết.

Qua ngày hôm sau, ông dậy sớm, giở tay nải đưa cho cô gái mấy bát gạo nếp, nhờ nàng thổi giúp cho mình một nồi vừa cơm vừa bánh để ăn và đem đi ăn đường. Cô gái không từ chối, vội lấy gạo ra vo. Trước khi cho vào nồi, nàng bớt lại một ít giã làm bột vắt bánh rồi hấp luôn vào cơm. Khi nàng bưng ra, ông già lấy làm vừa ý, cho là con người có đủ cả đức hạnh , khôn ngoan, đảm đang ít có, bèn quyết định trở về sửa soạn lễ hỏi cho con trai làm vợ.

Đứa con trai của ông từ ngày có vợ lại càng lêu lổng; hắn thường bỏ nhà đi đánh đàn, đánh đúm với bọn vô lại, làm cho ông hết sức buồn. Và điều làm cho ông lo lắng nhất là thỉnh thoảng lại trộm tiền của ông, khi năm bảy quan, khi một vài vác, tung vào cuộc đỏ đen. Mặc cho ông đánh đập, mặc cho vợ khuyên lơn, nhưng hắn vẫn chứng nào tật nấy.

Dần dần ông buồn phiền thành bệnh. Một hôm biết mình sắp chết, ông gọi con dâu đến bên giường dặn nhỏ:

- Nay Cha đã gần đất xa trời. chồng con là một thằng “phá gia chi tử”, cơ nghiệp này chỉ còn một sớm một chiều mà thôi. Cha rất thương con xấu số. Từ lâu Cha làm ăn dành dụm, có được một hũ vàng chôn ở sau vườn. Vậy Cha cho riêng con hũ vàng đó, đừng cho chồng con biết, sau này chồng con có thật sự ăn năn hẵng giúp nó làm lại cuộc đời.

Đứa con trai ông, sau khi người cha qua đời, lại càng ăn chơi mặc sức. Vợ hết khuyên lơn đến cầu khẩn, hắn chẳng những đã không nghe, lại càng phủ phàng với vợ. Mỗi lần thua bạc, hai người lại càng xô xát. Nhiều lần vợ cản trở, hắn đánh đập vợ không tiếc tay và làm nhục nàng trước mặt mọi người. Một hôm, để khỏi vướng, hắn viết giấy cho vợ đi lấy chồng khác rồi đuỗi nàng ra khỏi nhà.

Từ đó, hắn phỉ chí tung hoành không một ai dám cản. Quả như lời đoán của bố hắn, mấy chục mẫu ruộng lần lượt được “nướng” vào sòng bạc. Hết ruộng vườn tới nhà cửa, chẳng bao lâu tất cả cơ nghiệp mấy đời lưu truyền lại đều sạch sành sanh. Cuối cùng, không một đồng dính túi, không một nghề cầm tay, hắn đành bỏ làng mạc quê quán, đi lang thang khắp đầu đường xó chợ, ngửa tay xin ăn qua ngày.

Lại nói chuyện người đàn bà sau khi bị chồng đuỗi đi, mới đổi tên, tìm đến trấn thành mở một hàng nước. Sau ít lâu, kiếm được một số vốn nhỏ, nàng bắt đầu buôn hàng tấm. Số vốn của nàng ngày một lớn dần. Một hôm, gặp hai em bé mồ côi đi ăn xin, nàng thương tình mang về nuôi làm con, coi như ruột thịt. Cuộc đời dần dần nở hoa trước mắt nàng.

Trong một dịp đi tìm kiếm củi, hai con nàng nhặt được một khúc gỗ mục, về chẻ ra thấy có mấy thoi vàng. Có vốn lớn lại có tài kinh doanh nên chẳng bao lâu nàng trở nên giàu có, nổi tiếng trong trấn. Tiền bạc tuôn về như nước. Tuy sống sung sướng nhưng nàng vẫn một thân một mình. Thấy nàng giàu có, nhiều kẻ ngấp nghé muốn “gá nghĩa Châu Trần”, nhưng người đàn bà ấy nhất thiết chối từ mọi lời đường mật. Mặc dù người chồng bạc bẽo và mặc dù mười năm xa cách, nàng vẫn không quên được tình xưa nghĩa củ. Đã nhiều lần nàng thuê người lần đi các chợ búa phố phường dò hỏi, nhưng tin tức của chồng, càng hỏi càng bặt tăm.

Năm ấy, sau mấy tháng hạn, lúa khoai chết mòn trên những cánh đồng nức nẻ. Giá gạo cứ thế leo lên vùn vụt. Ngoài đường, người xin ăn kéo đi từng đoàn. Người đàn bà lúc này đã là chủ hiệu. Bà xin phép quan trên cho mình đem tiền gạo ra phát chẩn cho kẻ khó. Làm như thế, nàng còn mong một khi thấy yết thị dán khắp thôn xóm thì chồng tất sẽ lần mò về, nếu hắn còn sống.

Và y như thế thật, ngày bắt đầu phát, nàng đã thấy bóng dáng của chồng ngồi ở hàng cuối đội quân lĩnh chẩn. Đúng là hắn. Từ ngày bắt đầu cầm bị gậy đến nay, hắn vẫn chưa có cách gì để sống khá hơn và đỡ hèn hạ hơn trước. Bây giờ nghe nói có phát chẩn, hắn vội mò đến đây và ngồi đầu hàng về phía tả.

Thế nhưng khi phát, những người giúp việc cho bà chủ hiệu lại được lệnh phát từ phía bên hữu qua. Khi sắp sửa đến lượt hắn thì bọn họ tự nhiên nói lớn:

- Hôm nay đã hết gạo, mời bà con về đợi đến ngày mai ! <?p>

Hắn buồn bực trở ra. Qua ngày sau, hắn cố tìm đến thật sớm, ngồi vào đầu hàng bên hữu. Nhưng hắn không ngờ, những người phát chẩn hôm nay lai bắt đầu phát từ phía bên kia. Lúc sắp đến lượt hắn thì chúng lại giơ thúng không lên:

- Hôm nay hết gạo. Bà con hãy đợi đến mai !

Hắn thở than cho số phận đen đủi, lần trở ra về. Qua ngày hôm sau, hắn cố tìm đến thật sớm. Lần này, hắn len vào ngồi đúng vào giữa đội quân lỉnh chẩn. Trong bụng hắn nghĩ lần này không thể mất phần được.

Nhưng đến giờ phát, hắn không ngờ người nhà của bà chủ hiệu hôm nay lại phát hai đầu phát lại và cuối cùng, người không được gì cả vẫn lại là hắn. Ba lần hỏng cả ba, hắn hết sức ngao ngán, bèn đánh liều tìm đến dinh cơ bà chủ để xin ăn. Gặp hai đứa con gái nuôi của vợ, hắn ngả nón kêu van hết lời. Trong nhà người đàn bà nhìn ra biết chồng, đã do mưu của mình mà đến đây, bèn sai người hầu ra hỏi, xem hắn có biềt làm việc gì không để thuê mướn. Nghe hỏi thế, hắn vôi trả lời:

- Xin ông bẩm với bà lớn rủ lòng thương, cho tôi được ở hầu bà, rửa bát, quét nhà, mọi việc tôi đều xin hết sức. Chỉ cho tôi ăn ba miếng là đủ rồi !

Người nhà trở ra cho hắn biết là bà nhận lời. Từ đó hắn chăm chỉ làm lụng, cố làm vừa lòng chủ. Nhưng chung quy hắn vẫn không biết chủ chính là vợ cũ của mình. Về phần người vợ, cũng không hề để lộ một tí gì cho hắn biết, chỉ dặn hai con và người nhà đối đải tử tế mà thôi.

Sau một thời gian, thấy hắn chịu khó làm ăn, người đàn bà mừng lắm. Môt hôm nàng cho gọi hắn lên nhà hỏi xem có biết chữ nghĩa gì không! Hắn đáp:

- Tôi lúc nhỏ được đi học có biết ít nhiều.

- Vậy từ ngày mai trở đi, anh không hầu hạ nữa, cho anh ở gian nhà khách dạy đám trẻ học, tôi sẽ trả cho anh mỗi tháng ba mươi quan.

Nghe nói, hắn tưởng không có gì sung sướng hơn thế nữa, cảm thấy lòng nhân đức của bà chủ đối với mình bằng trời bằng biển, vội nhận lời ngay. Từ đó, hắn đóng vai thầy đồ cố sức làm cho chủ tin cậy. Nhưng người vợ vẫn thử mãi không thôi.

Một lần, gặp ngày tết, bà chủ sai lấy tiền ra cho kẻ hầu người hạ, nàng nói:

- Ta cho mỗi người năm quan, hãy mang đi đánh bạc cho vui, nếu hết sẽ cho thêm.

Thầy đồ ta cũng được năm quan tiền. Nhưng trong khi mọi người đem tiền nướng vào xóc đĩa, bài mười, thì trái lại, hắn mang nguyên vẹn số tiền đó về gửi cho chủ. Bà chủ hỏi:

- Tại sao anh không thích đánh bạc ? Hắn trả lời:

- Bẩm bà, tôi ngày xưa, vì cờ bạc mà ra đến nông nổi này. Cho nên bây giờ buột chỉ cổ tay thề rằng không đụng đến nó.

Thế rồi thuận miệng, hắn kể hết cho chủ nghe, từ cuộc đời cũ có ruộng nhiều, có vợ ngoan như thế nào, rồi bán ruộng đuổi vợ ra sao, cho đến lang thang đói rách, và ngày nay đã ăn năn hối lỗi, vv …Bà chủ hỏi:

- Anh còn thương vợ nữa không ? Hắn rầu rĩ:

- Tôi đã nhiều lần dò tìm mà không thấy.

- Nghe anh nói tôi rất thương tình. Vậy tôi cho anh năm quan để anh đi tìm vợ. Nếu hết tiền mà vẫn chưa tìm ra, anh cứ về đây, tôi sẽ cho thêm mà tìm cho được.

Hắn mừng rỡ vâng dạ, mang tiền đi tìm. Nhưng sau ba tháng trở về với bộ mặt thiểu não, hắn cho chủ biết không hề thấy tung tích đâu cả, chắc là vợ hắn đã chết. Từ đấy, vợ thấy chồng chí tình, lại có lòng tu tỉnh nên rất mừng. Nhưng nàng vẫn chưa ra mặt vội, chỉ an ủi hắn hãy ở lại đây, may ra có ngày hội ngộ.

Một hôm, nhân ngày giỗ cha chồng, bà chủ nhờ thầy đồ viết bài văn tế. Hắn ta ngạc nhiên và bội phần mừng rỡ khi thấy bài vị của tổ tiên nhà chủ chính là bài vị tổ tiên mình. Lập tức, hai vợ chồng ôm nhau khóc lóc. Rồi sau khi cúng xong, họ cho mời làng xóm và người nhà ngồi lại kể lể sự tình. Ai nấy đều cho là một cuộc tái ngộ hiếm có.<?p>

Về sau, hai vợ chồng dựng vợ gả chồng cho hai con nuôi xong, giao cửa hiệu lại cho chúng cai quan. Sau đấy, họ dắt nhau về quê hương xưa, chuộc lại vườn tược nhà cửa cũ. Và sau khi đã sống yên ổn ở quê nhà, vợ mới sai đào hũ vàng bố chồng cho mình ngày xưa lên. Nàng nói:<?p>

- Có vàng chưa chắc đã hạnh phúc. Cho nên trong những cơn túng thiếu nhất, tôi vẫn không cần đến nó.

Nói đoạn, đem số vàng ấy bố thí cho người nghèo. Từ đấy, hai vợ chồng sống với nhau đến đầu bạc trăm năm.

Câu tục ngữ “ Làm trai rửa bát, quét nhà. Vợ gọi thì ‘Dạ, bẩm bà tôi đây!’” là do chuyện này mà ra.